Biến chứng của bệnh đái tháo đường

| Chủ Đề Khác | Tin tức | Tag: ,

Cùng với sự phát triển của xã hội là đi kèm với sự gia tăng tỷ lệ các bệnh mạn tính không lây. Trong đó đái tháo đường là bệnh chiếm tỷ lệ ngày càng gia tăng và cũng rất nguy hiểm. Nguy hiểm không chỉ vì triệu chứng của bệnh mà nó còn gây ra nhiều biến chứng trên các cơ quan khác. Vậy đái tháo đường gây ra những biến chứng gì? Hãy cùng BSN tìm hiểu trong bài viết này nhé!

Biến chứng trên tim mạch:

    Đái tháo đường gây ảnh hưởng đến cả tim và hệ thống mạch máu. Đây là biến chứng dễ gây tử vong nhất đối với bệnh nhân.

    Ở bệnh nhân đái tháo thường thường gia tăng nguy cơ xơ vữa mạch từ đó dễ dẫn đến bệnh mạch vành ( nhồi máu cơ tim) và đột quỵ.

    Huyết áp cao, cholesterol cao, glucose máu cao và các yếu tố nguy cơ khác góp phần làm tăng nguy cơ biến chứng tim mạch.

Biến chứng trên thận (bệnh thận đái tháo đường):

    Hàm lượng glucose máu quá cao lâu ngày sẽ gây tổn thương các mạch máu nhỏ ở thận, tổn thương màng đáy cầu thận dẫn đến thận hoạt động kém hiệu quả hoặc có thể gây suy thận.

    Một trong những xét nghiệm cần làm thường xuyên để đánh giá chức năng thận ở bệnh nhân đái tháo đường chính là xét nghiệm tìm microalbumin niệu.

    Bệnh thận phổ biến ở những người đái tháo đường hơn những người không mắc đái tháo đường.

    Việc duy trì mức glucose máu và huyết áp bình thường có thể làm giảm đáng kể nguy cơ mắc bệnh thận.

Biến chứng thần kinh ( bệnh thần kinh đái tháo đường):

    Glucose máu cao kéo dài có thể gây tổn thương thần kinh ở khắp cơ thể.

    Khu vực bị ảnh hường nhiều nhất thường là các chi, đặc biệt là bàn chân. Tổn thương thần kinh ở những vùng này được gọi là bệnh thần kinh ngoại biên do đái tháo đường. Thường xuất hiện các triệu chứng như đau nhức, ngứa ran, giảm hoặc mất cảm giác….

    Trong đó mất cảm giác rất nguy hiểm có thể dẫn tới các sự cố đáng tiếc. Bởi vì mất cảm giác nên các vết thương quá nhỏ như gai đâm, các vết xước…. Thường không được chú ý đến, đồng thời lượng đường cao trong máu làm vi khuẩn rất dễ phát triển và sinh sôi. Đó là lý do gây nên các tình trạng nhiễm trùng và khá nghiêm trọng có thể dẫn đến hoại tử và phải cắt cụt chi ( bàn chân đái tháo đường).

    Theo khuyến cáo bệnh nhân đái tháo đường nên thường xuyên mang dép để bảo vệ bàn chân của mình cũng như kiểm tra bàn chân thường xuyên để phát hiện sớm và kịp thời nếu có vết thương.

    Ngoài ra việc gây tổn thương thần kinh khắp có thể có thể dẫn các vấn đề về tiêu hoá, rối loạn cương dương, suy giảm chức năng sinh dục và còn rất nhiều chức năng khác…..

Biến chứng trên mắt ( bệnh võng mạc đái tháo đường):

    Mức glucose máu cao liên tục cùng với huyết áp cao và cholesterol cao là những nguyên nhân chính gây ra bệnh võng mạc.

    Hầu hết những người mắc đái tháo đường sẽ phát triển một số loại bệnh về mắt (bệnh võng mạc) làm giảm thị lực hoặc mù lòa.

    Một số loại bệnh có thể gặp như đục thể thuỷ tinh, tăng nhãn áp…..

    Để kiểm soát được tình trạng này cần kiểm tra mắt thường xuyên và kiểm soát giữ mức glucose máu và lipid bình thường hoặc gần bình thường.

Các biến chứng trong thời kỳ mang thai:

    Phụ nữ mắc đái tháo đường trong suốt thời kỳ mang thai nguy cơ có một số biến chứng nếu họ không theo dõi cẩn thận và kiểm soát tình trạng bệnh.

    Đứa trẻ có nguy cơ thừa cân, người mẹ khi sinh nở rất dễ gặp biến chứng gây chấn thương cho cả mẹ lẫn con và có thể đột ngột hạ đường huyết sau sinh…..

    Trẻ bị phơi nhiễm trong thời gian dài với glucose máu cao trong tử cung có nguy cơ mắc đái tháo đường cao hơn trong tương lai.

    Để ngăn ngừa các tổn thương cơ thể xảy ra cho thai nhi, phụ nữ đái tháo đường típ 1 hoặc típ 2 nên được kiểm soát đạt mức glucose máu mục tiêu trước khi có thai. Tất cả phụ nữ đái tháo đường trong thời kỳ mang thai, típ 1, típ 2 hoặc đái tháo đường thai kỳ nên cố gắng đạt được mục tiêu glucose máu trong suốt quá trình để giảm thiểu các biến chứng.

Trên đấy chỉ kaf một số các biến chứng hay gặp trong bệnh đái tháo đường. Tuy nguy hiểm nhưng chúng ta hoàn toàn có thể phòng tránh được các biến chứng này bằng cách giữ glucose máu ở một mức độ ổn định nhất và ăn uống sinh hoạt một cách thật hợp lý.

BSN

Bình luận
0

Bình luận