Đã có thời gian công bố điểm thi, điểm chuẩn vào lớp 10 tại Hà Nội năm 2015

Đã có thời gian công bố điểm thi, điểm chuẩn vào lớp 10 tại Hà Nội năm 2015: Phó giám đốc Sở Giáo dục và Đào tạo thành phố Hà Nội Nguyễn Hiệp Thống cho biết, 1.000 giáo viên gồm cả thầy cô dạy THCS và THPT đang chấm thi tuyển sinh vào lớp 10. Năm nay, thành phố có gần 80.000 thí sinh thi đầu cấp vào THPT, tăng khoảng 10.000 em so với năm trước.

Đã có thời gian công bố điểm thi, điểm chuẩn vào lớp 10 tại Hà Nội

Trao đổi với VnExpress, Phó giám đốc Sở Giáo dục và Đào tạo thành phố Hà Nội Nguyễn Hiệp Thống cho biết, 1.000 giáo viên gồm cả thầy cô dạy THCS và THPT đang chấm thi tuyển sinh vào lớp 10. Năm nay, thành phố có gần 80.000 thí sinh thi đầu cấp vào THPT, tăng khoảng 10.000 em so với năm trước. Ngay từ bây giờ, bạn cũng có thể đăng ký nhận điểm chuẩn 10 tại HCM bằng cách soạn tin nhắn theo cú pháp:

Tra điểm thi: ADTM HANOI<Số BD> gửi 8702

Tra điểm chuẩn: ADCM HANOI<Mã trường>  gửi 8702

Theo kế hoạch, ngày 23/6 việc chấm thi sẽ kết thúc. Ngày 24/6 kết quả điểm thi vào lớp 10 của các thí sinh sẽ được Sở Giáo dục và Đào tạo Hà Nội công bố. Thí sinh có thể nộp đơn phúc khảo từ 24/6 đến 1/7.  Điểm chuẩn vào các trường THPT có lớp chuyên sẽ được công bố trước vào ngày 25/6. Một ngày sau sẽ có điểm chuẩn vào các trường THPT công lập.Chỉ tiêu tuyển sinh vào lớp 10 THPT năm học 2015 – 2016Tổng số trường THPT được giao chỉ tiêu tuyển sinh là 200 trường. Chỉ tiêu cụ thể từng trường như sau:* 105 trường THPT công lập: Phan Đình Phùng: 600 HS; Phạm Hồng Thái: 520 HS; Nguyễn Trãi- Ba Đình: 520 HS; Tây Hồ: 560 HS; Trần Phú – Hoàn Kiếm: 600 HS; Việt Đức: 600 HS (1 lớp tiếng Nhật, 1 lớp tiếng Đức); Thăng Long: 560 HS; Trần Nhân Tông: 520 HS (1 lớp tiếng Pháp); Đoàn Kết – Hai Bà Trưng: 560 HS; Kim Liên: 600 HS (1 lớp tiếng Nhật); Lê Quý Đôn – Đống Đa: 560 HS; Đống Đa: 560 HS; Quang Trung – Đống Đa: 560 HS; Nhân Chính: 400 HS; Trần Hưng Đạo – Thanh Xuân: 480 HS; Yên Hòa: 480 HS; Cầu Giấy: 480 HS; Đa Phúc: 480 HS; Sóc Sơn: 480 HS; Trung Giã: 400 HS; Xuân Giang: 400 HS; Kim Anh: 440 HS; Minh Phú: 320 HS; Liên Hà: 520 HS; Vân Nội: 520 HS; Đông Anh: 400 HS; Cổ Loa: 480 HS; Bắc Thăng Long: 400 HS; Cao Bá Quát – Gia Lâm: 480 HS; Yên Viên: 480 HS; Dương Xá: 480 HS; Nguyễn Văn Cừ: 480 HS; Nguyễn Thị Minh Khai: 480 HS; Xuân Đỉnh: 480 HS; Trung Văn: 400 HS; Thượng Cát: 400 HS; Đại Mỗ: 400 HS; Ngọc Hồi: 480 HS; Ngô Thì Nhậm: 520 HS; Việt Nam – Ba Lan: 560 HS; Trương Định: 600 HS; Hoàng Văn Thụ: 520 HS; Nguyễn Gia Thiều: 560 HS; Lý Thường Kiệt: 320 HS; Thạch Bàn: 440 HS; Phúc Lợi: 360 HS; Mê Linh: 400 HS; Tiền Phong: 400 HS; Tiến Thịnh: 320 HS; Quang Minh: 360 HS; Yên Lãng: 400 HS; Tự Lập: 320 HS; Lê Quý Đôn – Hà Đông: 560 HS; Quang Trung – Hà Đông: 440 HS; Trần Hưng Đạo – Hà Đông: 440 HS; Lê Lợi – Hà Đông: 440 HS; Tùng Thiện: 480 HS; Xuân Khanh: 400 HS; Ba Vì: 520 HS; Bất Bạt: 400 HS; Dân tộc nội trú: 105 HS; Ngô Quyền – Ba Vì: 600 HS; Quảng Oai: 600 HS; Minh Quang: 240 HS; Hoài Đức A: 560 HS; Hoài Đức B: 520 HS; Vạn Xuân – Hoài Đức: 440 HS; Ngọc Tảo: 560 HS; Phúc Thọ: 520 HS; Vân Cốc: 400 HS; Đan Phượng: 440 HS; Hồng Thái: 480 HS; Tân Lập: 440 HS; Thạch Thất: 560 HS; Phùng Khắc Khoan – Thạch Thất: 520 HS; Bắc Lương Sơn: 320 HS; Hai Bà Trưng – Thạch Thất: 480 HS; Quốc Oai: 600 HS; Cao Bá Quát – Quốc Oai: 480 HS; Minh Khai: 560 HS; Chương Mỹ A: 600 HS; Chương Mỹ B: 600 HS; Xuân Mai: 600 HS; Chúc Động: 600 HS; Thanh Oai A: 480 HS; Thanh Oai B: 480 HS; Nguyễn Du – Thanh Oai: 480 HS; Thường Tín: 520 HS; Nguyễn Trãi – Thường Tín: 400 HS; Tô Hiệu – Thường Tín: 480 HS; Lý Tử Tấn: 400 HS; Vân Tảo: 400 HS; Mỹ Đức A: 600 HS; Mỹ Đức B: 560 HS; Mỹ Đức C: 400 HS; Hợp Thanh: 440 HS; Đại Cường: 280 HS; Lưu Hoàng: 400 HS; Trần Đăng Ninh: 480 HS; Ứng Hòa A: 480 HS; Ứng Hòa B: 400 HS; Đồng Quan: 480 HS; Phú Xuyên A: 600 HS; Phú Xuyên B: 480 HS; Tân Dân: 400 HS.* 6 trường THPT công lập tự chủ tài chính: Thực nghiệm: 120 HS; Phan Huy Chú – Đống Đa: 240 HS; Hoàng Cầu: 400 HS; Phổ thông năng khiếu thể dục thể thao: 280 HS: Trần Quốc Tuấn: 200 HS; Nguyễn Tất Thành – Cầu Giấy: 400 HS.* 2 trường THPT chuyên và 2 trường THPT có lớp chuyên: Hà Nội – Amsterdam: 595 HS, trong đó 560 HS các lớp chuyên, lớp tiếng Pháp song ngữ: 35 HS; Chu Văn An: 600 HS, gồm 350 HS các lớp chuyên, 160 HS lớp không chuyên, 45 HS lớp tiếng Pháp song ngữ, 45 HS lớp tiếng Nhật; Nguyễn Huệ: 525 HS; Sơn Tây: 555 HS, gồm 315 HS các lớp chuyên, 240 HS các lớp không chuyên.* 87 trường THPT ngoài công lập: Văn Lang: 120 HS; Đinh Tiên Hoàng: 320 HS; Văn Hiến: 200 HS; Hồng Hà: 240 HS; Mai Hắc Đế: 200 HS; Hoàng Diệu: 160 HS; Tạ Quang Bửu: 280 HS; Vinschool: 240 HS; Tô Hiến Thành: 80 HS; Nguyễn Văn Huyên: 120 HS; Bắc Hà – Đống Đa: 160 HS; Einstein: 200 HS; Đông Đô: 160 HS; Phan Chu Trinh: 120 HS; Hà Nội – Academy: 80 HS; Chi nhánh Trường Song ngữ quốc tế Horizon: 40 HS; Phan Bội Châu: 120 HS; Lương Thế Vinh – Thanh Xuân: 480 HS; Nguyễn Trường Tộ: 120 HS; Đại Việt: 160 HS; Đào Duy Từ: 320 HS; Hồ Xuân Hương: 120 HS; Lương Văn Can: 120 HS; Alfred Nobel: 40 HS; Huỳnh Thúc Kháng: 160 HS; Hà Nội: 120 HS; Nguyễn Siêu: 160 HS; Lý Thái Tổ: 200 HS; Hermann Gmeiner Hà Nội: 120 HS; Nguyễn Bỉnh Khiêm – Cầu Giấy: 520 HS; Phương Nam: 160 HS; Trần Quang Khải: 80 HS; Nguyễn Đình Chiểu: 80 HS; Đông Kinh: 160 HS; Quốc tế Thăng Long: 80 HS; Tây Sơn: 80 HS; Lê Văn Thiêm: 200 HS; Vạn Xuân – Long Biên: 200 HS; Mùa Xuân – Wellspring: 80 HS; Ngô Tất Tố: 280 HS; Phạm Ngũ Lão: 280 HS; An Dương Vương: 200 HS; Ngô Quyền – Đông Anh: 120 HS; Hoàng Long: 80 HS; Lê Hồng Phong: 80 HS; Nguyễn Du: 160 HS; Lý Thánh Tông: 240 HS; Bắc Đuống: 200 HS; Lê Ngọc Hân: 160 HS; Tô Hiệu: 160 HS; Mạc Đĩnh Chi: 160 HS; Lạc Long Quân: 200 HS; Đặng Thai Mai: 120 HS; Lam Hồng: 160 HS; Minh Trí: 80 HS; Phú Bình: 80 HS; Marie Curie: 240 HS; M.V Lômônôxốp: 280 HS; Trí Đức: 280 HS; Việt – Úc Hà Nội: 80 HS; Newton: 120 HS; Xuân Thủy: 120 HS; Olympia: 80 HS; Trần Thánh Tông: 80 HS; Đoàn Thị Điểm: 200 HS; Lê Thánh Tông: 200 HS; Tây Đô: 160 HS; Việt Hoàng: 120 HS; Hà Thành: 160 HS; Lương Thế Vinh – Ba Vì: 160 HS; Trần Phú – Ba Vì: 200 HS; Hà Đông: 400 HS; Phùng Hưng: 240 HS; Xa La: 120 HS; Phổ thông quốc tế Việt Nam: 80 HS; Bình Minh: 240 HS; Hồng Đức: 160 HS; Phan Huy Chú – Thạch Thất: 360 HS; FPT: 320 HS; Nguyễn Trực: 160 HS; Nguyễn Thượng Hiền – Ứng Hòa: 80 HS; Đặng Tiến Đông: 120 HS; Ngô Sĩ Liên: 240 HS; Trần Đại Nghĩa: 120 HS; Bắc Hà – Thanh Oai: 200 HS; Thanh Xuân: 120 HS; Nguyễn Bỉnh Khiêm – Phú Xuyên: 240 HS.

Bình luận
0

Bình luận