Ung thư dạ dày và hướng điều trị

Ung thư dạ dày ( UTDD) là một bệnh lí ác tính của tổn thương dạ dày, thường gặp trong các ung thư ở đường tiêu hóa. Tại Việt Nam, theo Đoàn Hữu Nghị, tỉ lệ mắc bệnh ung thư dạ dày ở nam giới là 19,3/ 100.000 người và ở nữ là 9,1/ 100.000 người, bệnh thường gặp ở lứa tuổi từ 40-60, nam gấp 2 lần nữ. Chẩn đoán sớm và chính xác nhất là nhờ kĩ thuật nội soi ống mềm có sinh thiết làm giải phẫu bệnh.

1. Các yếu tố nguy cơ gây UTDD

– Thường xuyên ăn thực phẩm chứa nitrat như thịt muối, thịt hun khói, lạp xưởng, xúc xích, thức ăn đóng hộp,… Vi khuẩn sẽ chuyển nitrat thành nitrit rồi thành nitrosamin – là chất gây UTDD. Ở nhiệt độ thấp (2-4 độ C), nitrat không chuyển thành nitrit được, do đó bảo quản thực phẩm trong tủ lạnh sẽ làm giảm tần suất UTDD.

– Yếu tố di truyền: Gia đình có người mắc UTDD thì nguy cơ mắc UTDD cao hơn gấp 4 lần người bình thường.

– Helicobacter Pylory ( HP) : Nhiễm HP kéo dài, gây viêm dạ dày qua nhiều giai đoạn, những người nhiễm HP kéo dài có nguy cơ mắc UTDD cao hơn gấp 6 lần người bình thường.

– Bệnh thiếu máu ác tính Biermer, polyp tuyến dạ dày, viêm dạ dày thể teo đét, đã từng làm phẫu thuật dạ dày, phóng xạ, gen,…

2. Biểu hiện lâm sàng

a) Giai đoạn sớm:  Giai đoạn này thường khó phát hiện, triệu chứng không đặc hiệu, bệnh nhân có thể xuất hiện các biểu hiện sau:

– Ăn mất ngon, chán ăn, đôi khi có buồn nôn hoặc nôn.

– Đầy bụng, khó tiêu, lúc đầu xuất hiện thưa thớt, sau này xuất hiện ngày càng nhiều hơn.

– Khó chịu hoặc đau ở bụng: Cảm giác ậm ạch ở vùng thượng vị, đau không rõ ràng, đau không nhiều như trong loét dạ dày.

– Đi cầu phân đen rỉ rả.

– Suy nhược, mệt mỏi, thiếu máu, da xanh niêm mạc nhợt, giảm khả năng lao động.

b) Giai đoạn muộn: 

– Đau bụng: Đau bụng ở thượng vị, đau nhiều không có tính chu kì, đau kéo dài, dùng thuốc không giảm đau.

– Buồn nôn và nôn: Do khối u tăng sinh làm chít hẹp môn vị, thức ăn không qua được môn vị nên gây cảm giác buồn nôn và nôn, có thể nôn ra máu.

– Đi cầu phân đen thường xuyên.

– Sờ thấy khối u ở bụng: U ở vùng thượng vị, trên hoặc ngang rốn, u thường di động dễ dàng, không đau khi sờ nắn.

– Sốt kéo dài, phù 2 chân, viêm tắc tĩnh mạch tái phát.

– Di căn phúc mạc: sờ bụng lổn nhổn, có dịch ổ bụng, giai đoạn quá muộn ổ bụng đầy dịch cổ chướng.

– Di căn hạch lympho: thường gặp là di căn ở hạch hố thượng đòn trái, hạch di căn sớm nhất trong UTDD, hạch to sờ thấy, cứng, không đau, ít di động.

– Sụt cân nhiều không rõ nguyên nhân.

3. Điều trị

Phương pháp điều trị duy nhất có hiệu quả là phẫu thuật, kết quả sau mổ phụ thuộc vào nhiều yếu tố trong đó yếu tố chẩn đoán sớm là quan trọng nhất .

– Phẫu thuật triệt để:

    Cắt bán phần dạ dày rộng: Loại bỏ phần dạ dày bị ung thư ( 2/3, 3/4, 4/5 dạ dày), mạc nối lớn, hạch di căn, lách, một phần tụy.

    Cắt toàn bộ dạ dày: Khi khối u quá lớn hoặc lan rộng có nhiều di căn hạch, tỉ lệ tử vong cao.

    Sau mổ 15 ngày có thể tiêm 5 FU liều 10mg/kg/24h pha 500ml HTN 5% truyền tĩnh mạch trong 4 ngày. Nếu bệnh nhân dung nạp thuốc có thể tiêm tiếp tục 4 liều như trên nhưng cách nhật.

– Điều trị tạm thời:

    Cắt bán phần dạ dày tạm thời: Trong trường hợp khối u to gây hẹp môn vị, chảy máu hoặc thủng, nhưng điều kiện không cho phép cắt toàn bộ dạ dày và không tiến hành nạo vét hạch theo quy chuẩn được.

    Phẫu thuật nối vị tràng: Trong trường hợp hẹp môn vị mà không còn khả năng cắt đoạn dạ dày bán phần hay toàn bộ.

    Phẫu thuật mở thông dạ dày: Trong trường hợp ung thư tâm vị lan lên thực quản mà không còn khả năng cắt bán phần cực trên hay cắt toàn bộ dạ dày.

    Phẫu thuật Newman: Chỉ định trong các trường hợp cấp cứu thủng do ung thư dạ dày mà không còn khả năng cắt bỏ.

    Hóa chất 5 FU liều 15mg/kg/24h trong 2-3 ngày rồi hạ xuống 7,5mg/kg/24h cách nhật. Giúp cho u nhỏ lại trong 5-6 tháng, tuy nhiên bệnh nhân thường tử vong sớm do suy tủy sương.

Trên đây là một số thông tin về ung thư dạ dày cũng như hướng điều trị. Qua đó, để có thể giảm tỉ lệ mắc bệnh, chúng ta cần hạn chế các yếu tố nguy cơ, thăm khám định kì để được kiểm tra sức khỏe, chẩn đoán sớm sẽ giúp cho việc điều trị có hiệu quả tốt hơn, kéo dài thời gian sống của bệnh nhân.

BSN

 

 

 

 

 

 

 

Bình luận
0

Bình luận